Albums

CD's

 

Welcome to Ca Đoàn Ngàn Thông
Blessed Sacrament Church 14072, S. Oliver, Westminster, CA 92683
           
     
 
St. Therese of the Child Jesus
 
 
Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu
 
 
  Mục Lục:  
 
(1) Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Tiến Sĩ Hội Thánh. Click here
 
  (2) Thân Phụ và Thân Mẫu Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng. Click here  
  (3) Thánh Nữ Têrêsa Quan Thầy các xứ Truyền Giáo. Click here  
  (4) Thánh Lễ phong tước hiệu Tiến Sĩ cho Thánh Têrêsa. Click here  
  (5) Bài Giảng Lễ phong tước Tiến Sĩ cho Thánh Nữ Têrêsa. Click here  
 

(6) Con đường trưởng thành của Thánh Têrêsa. Click here

 
     

 

 

   
     

Vào lúc 10 giờ sáng Chúa Nhật Truyền Giáo, 19/10/1997, ÐTC Gioan Phaolô II cử hành thánh lễ tại Quảng Trường Thánh Phêrô và phong tước "Tiến Sĩ Hội Thánh" cho thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng.
Thông cáo của phòng báo chí Tòa Thánh đã nhận định như sau: Một trăm năm sau khi thánh nữ Têrêsa, vị thánh trẻ tuổi và quan thầy của các xứ truyền giáo, qua đời, Giáo Hội nhìn nhận giáo lý nổi bật và giá trị hiện đại của sứ điệp thiêng liêng của thánh nữ, như là hồng ân đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội, qua việc nhìn nhận Thánh Têrêsa, tiến sĩ của Hội Thánh, muốn tôn vinh Thiên Chúa Cha, Ðấng mạc khải cho những kẻ bé nhỏ biết Mầu Nhiệm Nước Trời, là làm cho sự khôn ngoan của các thánh được chiếu tỏa mọi thời đại, ngỏ hầu Phúc âm của Chúa Kitô có thể đến với mọi dân nước.

     
    12 12    
     

Thánh Nữ
Têrêsa Hài Ðồng Giêsu - Tiến Sĩ Hội Thánh

THỜI SỰ: Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu: Tiến sĩ Hội Thánh.

Trong lễ nghi bế mạc Ngày thế giới Thanh niên lần thứ 12 tại Paris, trước sự hiện diện của hơn một triệu người dự thánh lễ, Ðức Gioan Phaolô II tuyên bố: "Ngày 19 tháng 10 tới đây, cũng là ngày thế giới Truyền giáo, Thánh Têrêsa Hài Dồng Giêsu sẽ được tôn phong lên bậc Tiếân sĩ Hội Thánh". Như vậy Thánh Nữ Têrêsa là Vị Thánh Nữ thứ ba được tước hiệu này trong Giáo hội. Cách đây 27 năm, hai vị Thánh Nữ khác đã được ÐTC Phaolô VI tôn phong Tiễn sĩ Hội Thánh: ngày 27.9.1970 Thánh Têrêsa Thành Avila (1515-1582), người Tây Ban nha và ngày 4.10 cũng năm 1970 Thánh Catarina thành Siena (1347-1380), người Ý. Ngoài ra trong Giáo hội còn có hơn 30 Vị Thánh Nam được tước hiệu này, như Thánh Augustino, Thánh Gregorio Cả Giáo Hoàng, Thánh Bernard, Thánh Tomaso d'Aquino, thánh Antôn thành Padova v.v...

Ðể được tước hiệu Tiến sĩ Hội Thánh, không đòi phải là những vị thông thái đặc biệt, viết nhiều sách vở, nhưng đòi Vị Tiến sĩ nêu cao trong Giáo hội một giáo lý, một con đường tu đức có ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng của các tín hữu, để giúp họ tiến trên con đường thánh thiện. Con đường Tu đức của Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là "Con đường thơ ấu thiêng liêng", được Chúa nói lên trong Phúc Aâm: "Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời". Con đường thơ ấu này dựa trên đức khiêm tốn, đức phó thác hoàn toàn như người con trong tay người cha, người mẹ và nhất là dựa trên Tình yêu tha thiết đối với Thiên Chúa, Người Cha thương xót. Trong kinh kính Thánh Nữ, chúng ta thấy rõ con đường mà ngài đã theo: "Lạy Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, Bà đã sống ở thế gian chẳng bao lâu, Bà đã làm gương nhân đức sạch sẽ như Thiên Thần, đức Kính mến rất đại độ, lại phó mình theo ý Chúa...". Con đường Tu đức của Thánh Nữ để lại đã và còn gây ảnh hưởng nhiều đến các linh hồn, không những trong đời sống tu trì, mà cả nơi các linh hồn sống giữa thế gian. Ðúng như lời tiên tri Thánh nữ đã nói lên khi còn sống: "Trên trời, tôi sẽ làm mưa hoa hồng xuống trên trái đất này".

Ðúng như vậy. Thánh Pio X, Giáo Hoàng (1903-1914), tuyên bố: "Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là Vị Thánh lớn nhất của thời đại mới". Ðức Pio XI (1922-1939), vị Giáo Hoàng đã tôn phong Chân phước Têrêsa lên bậc Hiển Thánh Năm Thánh 1925, tôn phong Vị Nữ Tu Dòng Kín này lên làm Quan Thầy các xứ truyền giáo năm 1927, ngang hàng với Thánh Phanxico Xaviê. Chính Ðức Pio XI đã gọi Thánh Nữ Thành Lisieux là "Ngôi sao sáng Triều Giáo Hoàng của ngài". Năm 1944, Ðức Pio XII ( 1939-1958 ) đặt Thánh Têrêsa làm Quan Thầy thứ hai của Nước Pháp và trước đó ba năm ( tức 1941 ), Quan Thầy "Mission de France".

Việc xin tôn phong Thánh Nữ Têrêsa lên bậc Tiến sĩ không phải chỉ được bàn đến trong những năm mới đây. Việc này đã được thảo luận trong Hội nghị quốc tế tại Lisieux năm 1932 giữa các nhân vật quan trọng trong Giáo hội với sự hiện diện của ÐHY Verdier, TGM giáo phận Paris. Trong số các vị tham dự Hội nghị có các vị linh mục nổi tiếng, như Cha Petitot, Martin, Louis de la Trinité, Thellier de Poncheville, de Tonquedec, François Veuillot...

Ngày mồng 7 tháng năm 1982, Cha Léon Merklen lặp lại lời thỉnh cầu này trên nhật báo công giáo La Croix và lời thỉnh cầu đã được đón nhận trên cả thế giới. Mẹ Marie de l'Incarnation, Dòng Ursulines ở Trois Rivières bên Canada, với sự thỏa thuận của Ðức Giám mục giáo phận, Ðức Cha Cloutier, đã viết thư cho tất cả các giám mục thế giới. Mẹ đã nhận được từng trăm thư trả lời từ Năm Châu gửi về. Tất cả các thư này đều được giữ lại trong Công hàm của Nhà Dòng Kín Lisieux.

Lời thỉnh cầu của Hội nghị Lisieux năm 1932 không được Ðức Pio XI chấp nhận, tuy là một vị Giáo Hoàng sùng kính Thánh Nữ, đã tôn phong lên bậc Hiển Thánh, rồi đặt làm Quan Thầy các xứ truyền giáo. Lý do duy nhất được ngài đưa ra: Têrêsa là một phụ nữ. Năm 1923, chính ngài đã từ chối việc tôn phong Thánh Nữ Têrêsa thành Avila lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh cũng chỉ vì lý do này: "Obstat sexus" (phái tính ngăn trở). Mãi tới năm 1970, Ðức Phaolô VI đã tiến một bước can đảm: tôn phong hai Vị Thánh nữ lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh: Têrêsa thành Avila và Catarina thành Siena. Và đây cũng là một mở đường cho Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, vị Thánh đã nêu lên một giáo lý có tính cách phổ thông cho cả Giáo hội. Hồ sơ về vụ tôn phong này rất dồi dào và gồm tất cả những gì các Vị Giáo Hoàng đã nói về "Con đường thơ ấu của Thánh Nữ thành Lisieux", từ Ðức Benedicto XV (1914-1922) đến Ðức Gioan Phaolo II. Chính Ðức Gioan Phaolô II trong cuộc hành hương tại Lisieux ngày 28 tháng 6 năm 1980, đã tuyên bố trước 80 ngàn người dự thánh lễ: "Về Têrêsa thành Lisieux, có thể nói với thành tín rằng: Thần Khí Thiên Chúa đã để cho ngài mạc khải cách trực tiếp cho con người của thời đại ta mầu nhiệm và thực tại nền tảng của Phúc Âm: Sự kiện đã được lãnh nhận thực sự: đó là tinh thần của người con nuôi, cho phép chúng ta kêu lên: "Abbà: Lạy Cha". Con đường nhỏ là con đường của tuổi thơ ấu thánh Sainte Enfance). Trong con đường này cùng một lúc có sự xác nhận và có việc làm sống lại của chân lý nền tảng và phổ thông hơn cả. Chân lý nào của sứ điệp Phúc Âm thực sự là nền tảng và phổ thông hơn chân lý này: Thiên Chúa là Cha chúng ta và chúng ta là con cái của Người?"

Sau khi đã nhận được và cứu xét lời thỉnh cầu của hơn 50 Hội đồng Giám mục thế giới, với 250 ngàn chữ ký ủng hộ đến từ 107 quốc gia khác nhau, Chúa nhật tới đây 19.10.1997, cũng là dịp kỷ niệm 100 năm qua đời (30.9.1897) của Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, Ðức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong "Vị Thánh lớn nhất của thời đại mới" (lời Ðức Thánh Pio X, Giáo Hoàng) lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh.

Ðức Cha Guy Gaucher, giám mục phụ tá giáo phận Bayeux và Lisieux, nói: "Trước thềm Ngàn Năm thứ ba, việc tuyên bố Vị Nữ Tu Dòng Kín Carmelo thành Lisieux: Tiến sĩ Hội Thánh, là một dấu hiệu hứa hẹn cho thế giới và cách riêng cho giới trẻ và các người phụ nữ".

Roma ngày 15.10.97
P. Trần đoàn Kết, Lm.

     
           
     

Thân Phụ và Thân Mẫu Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu

THỜI SỰ: Louis Martin và Azelia Guérin: thân phụ và thân mẫu Thánh Nữ Têrêsa, gương mẫu cho người cha, người mẹ gia đình.

Chúa nhật 19.10.97 này, Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu được tôn phong lên Bậc Tiến sĩ Hội Thánh. Ðức Thánh Giáo Hoàng Pio X (1903-1914) đã nói: "Têrêsa là Vị Thánh lớn nhất của thời đại mới". Têrêsa trở nên Vị Thánh lớn, dĩ nhiên vì Têrêsa đã biết đáp lại cách can đảm tiếng gọi của Thiên Chúa và do ơn thánh của Người. Nhưng Têrêsa nên thánh một phần lớn do công ơn giáo dục đạo đức của cha mẹ và của sự giúp đỡ tận tình của các chị trong gia đình đối với em út. Chúa nói trong Phúc Âm: "Xem quả biết cây. Cây tốt sinh ra trái tốt" (Lc 6,43). Têrêsa là trái tốt bởi cây tốt, tức thân phụ và thân mẫu: Louis Stanislas Martin và Azelia Guérin. Cả hai Ông, Bà chắc chắn sẽ được tôn phong lên bậc Chân phước trong tương lai gần đây. Ngày 26 tháng 3 năm 1994, Bộ Phong Thánh đã công bố Sắc lệnh công nhận tính cách anh hùng về các nhân của hai Ông, Bà. Việc công nhận này là một hành động nền tảng trên con đường tiến lên danh dự bàn thờ. Từ nay hai Ông, Bà được tước hiệu "Ðáng kính". Từ bậc Ðáng Kính lên Bậc Chân phước, cần có một phép lạ.

Gia dình Ông, Bà Martin và Azelia là một gia đình khác thường. Khác thường không phải chỉ vì đã cung cấp cho Giáo hội một Vị Thánh, được cả thế giới biết đến và cầu khẩn, mà còn vì cha mẹ là những tín hữu thánh thiện và cả 4 người con gái đều là những vị đã hiến toàn thân cho Chúa trong Tu viện Carmel và Tu viện Visitation: tất cả đều là những linh hồn phong phú về nhân đức. Trong thư ngày 26 tháng 7 năm 1897 (năm qua đời: 30.9.1897) gửi cho người anh thiêng liêng linh mục truyền giáo, cha Maurice Bellière, Têrêsa viết: "Thiên Chúa nhân từ đã ban cho em một người cha và một người mẹ xứng đáng trên trời hơn dưới đất".

Louis Martin sinh tại Bordeaux ngày 22.8.1823, vì người cha lúc đó làm sĩ quan trong quân đội Pháp tại thành phố này. Khi cha về hưu, gia đình định cư tại Alençon. Louis là người suy tư nhiều, ưa thích im lặng và đạo đức sâu xa. Ðã có lần tỏ ý muốn sống đời tu dòng tại Tu viện Thánh Bernard, nhưng không thể thực hiện ý muốn được, vì lúc đó Louis không biết latinh, tiếng được dùng trong các kinh phụng vụ của Tu viện. Louis học nghề sửa đồng hồ, sau đó mở tiệm bán đồng hồ tại Alençon. Nhờ tính tình mực thước và nghiêm chỉnh, Louis đã thành công nhiều và được khách hàng tôn trọng, tín nhiệm và quí mến.

Azelia Guérin, một phụ nữ can đảm và hấp dẫn. Cô cũng là con gái của một sĩ quan trong quân đội Pháp. Cô sinh ngày 23.12.1831 tại Saint-Denis-sur-Sarthon, trong miền Normandie, nhưng gia đình sau này chuyển về Alençon. Azelia là một thiếu nữ rất đạo đức, cảm thấy mình có khuynh hướng sống đời tận hiến trong tu viện. Trong khi người chị Elise vào Dòng Visitation (Ðức Bà viếng thăm), Azelia tìm cách để được nhận vào dòng "Nữ tử bác ái" tại bệnh viện Alençon; đơn xin bị bác bỏ. Azelia cầu nguyện với Chúa: "Lạy Chúa, bởi vì Chúa nghĩ con không đáng là bạn của Chúa, xin ban cho con nhiều con cái và tất cả sẽ hiến dâng cuộc đời cho Chúa". Nghĩ đến tương lai, Azelia xin ơn soi sáng nơi Ðức Trinh Nữ Maria, Ðấng mà cô kính mến nhiều. Nhờ ơn soi sáng, Azelia khám phá được một sở chuyên nghề làm ren (dentellerie) nổi tiếng trong thành phố Alençon. Azelia đến học nghề và các bí quyết của nghề. Nhờ trí thông minh, sau thời gian Azelia đã tự mở một sở nhỏ để làm nghề này.

Tình cờ một ngày kia trên cầu Saint Leonard, Azelia gặp một thanh niên: khuôn mặt và kiểu cách của chàng gây cảm tình ngay. Cũng trong lúc đó, Azelia nghe một tiếng nói trong tâm hồn: "Ðây là một thanh niên dành cho cô". Thanh niên đó chính là Louis Martin. Lễ thành hôn được cử hành ngày 13 tháng 7 năm 1858. Chúa nghe lời Azelia cầu xin. Hai ông, bà được 9 người con. Tiếc thay, 4 đã chết lúc còn nhỏ. Dù đau khổ nhiều và trong lúc khóc thương các con chết đi, Azelia, vì có đức tin mạnh mẽ, sâu xa, không từ chối ơn của chức làm mẹ, vì bà tin rằng: các con chết đi được hưởng hạnh phúc của một cuộc sống vô tận. Louis và Azelia, trong sự phong phú thiêng liêng và trong nhân cách nổi bật, đã lập được một gia đình trong tình yêu thương và trong đức tin vững chắc: một gia đình đáng làm kiểu mẫu lý tưởng của "Giáo hội thánh thất", mà Công đồng Vatican 2 đã đề cao. Việc cầu nguyện phụng vụ và trong gia đình, thánh lễ hằng ngày và rước lễ mỗi khi được phép, theo luật lệ thời đó, lãnh bí tích hòa giải, việc hướng dẫn thiêng liêng, yêu mến Lời Chúa và lưu ý đến nền văn hóa tôn giáo....tất cả hòa với công việc tậân tụy giáo dục con cái về nhân bản, luân lý và thiêng liêng, về chăm chỉ làm việc, để cùng với cha mẹ bảo đảm kinh tế gia đình... Trong một gia đình như vậy, đức ái đối với người nghèo, người túng cực trở nên quảng đại, qua việc đóng góp rộng rãi vào các công việc từ thiện, các sáng kiến về phụng tự, các nhu cầu của xứ truyền giáo, lo lắng thi hành đức công bình xã hội đối với người thợ thuyền và các người giúp việc trong nhà...

Azelia luôn luôn mong ước có mợt người con linh mục và truyền giáo. Cả hai con trai đã chết lúc còn nhỏ. Người con sau cùng, Têrêsa, không những Chúa ban như một nhà truyền giáo thông thường, mà như Quan Thầy các xứ truyền giáo, ngang hàng với Thánh Phanxico Xaviê. Giữa biết bao ơn Chúa ban, Louis Martin và Azelia Guérin còn biết lãnh nhận trong đức tin và trong bình thản, các đau khổ Chúa gửi đến. Bị ung thư nơi ngực, Azelia lãnh nhận một cách anh hùng những đau đớn không ai tả lại được. Ngày 27 tháng 8 năm 1877, Bà qua đời, để lại 5 người con gái mồ côi, con lớn nhất mới có 17 tuổi; Têrêsa cuối cùng: 4 tuổi. Với cái chết của người vợ hiền, Louis Martin gia tăng tình yêu thương và sự tận tụy để lo lắng cho các con. Ông di chuyển gia đình về Lisieux, để các con có thể tìm được một sự nâng đỡõ tinh thần của gia đình Isidore Guérin, em ruột của Azelia. Chúa đòi ông từng đứa con một, đứa này sau đúùa khác và ông đáp lại cách quảng đại . Chúa lại đòi chính bản thân của ông: sức khoẻ, trí tuệ và sự tự do. Ông bị chứng bất toại não, rồi chứng cứng động mạch. Ông qua đời tại Le Mans ngày 29.7.1894, được cô con gái Céline giúp đỡ rất tận tình đến hơi thở cuối cùng. Thi hài của Louis và của Azelia hiện nay được đem về an táng trong Ðền thờ được xây cất để kính "Thánh Nữ Têrêsa, mà hai Ông, Bà tặng cho tước hiệu "Vị Hoàng hậu bé nhỏ "của ba, má".

Roma ngày 16.10.97
P. Trần đoàn Kết, Lm

     
           
     

Thánh Nữ Têrêsa
Quan Thầy các xứ truyền giáo

Ngày thế giới truyền giáo: Thánh lễ cho các Ðại học Giáo Hoàng ở Roma, đặc biệt hơn các năm khác, trùng hợp với lễ nghi tuyên bố Thánh Nữ Têrêsa "Tiến sĩ Hội Thánh" và trùng hợp với ngày thế giới truyền giáo

Vatican - 18.10.97 - Sáng chúa nhật 19.10 lúc 10 giờ, giờ Roma, tại Quảng trường Thánh Phêrô, ÐTC cử hành Thánh lễ cho các sinh viên các Ðại học Giáo Hoàng ở thủ đô Giáo hội. Tại Roma, có 5 Ðại học và 4 Cao Học viện (Athénée) với 16 ngàn sinh viên và khoảng 2 ngàn giao sư đến từ các nước thế giới. Hằng năm vào đầu năm học, ÐTC vẫn có thói quen dâng thánh lễ và gặp gỡ sinh viên.

Thánh lễ năm nay đặc biệt hơn các năm khác, trùng hợp với lễ nghi tuyên bố Thánh Nữ Têrêsa "Tiến sĩ Hội Thánh" và trùng hợp với ngày thế giới truyền giáo. Việc lựa chọn ngày lịch sử này để dâng thánh lễ và gặp gỡ sinh viên và giáo sư Ðại học Giáo hoàng mang ý nghĩa sâu xa: một đàng, nêu cao giá trị gương sáng về giáo huấn của "Vị Thày mới" (Thánh Têrêsa) cho các sinh viên và Giáo sư của các Ðại học Giáo Hoàng tại Thành Roma. Họ có nhiệm vụ đào sâu và phổ biến giáo lý của Giáo hội; đàng khác Thánh Nữ được tôn phong lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh hôm nay đây, là Thánh Nữ "nhỏ bé", cách đây 70 năm (1927), đã được tôn phong làm Quan Thầy các xứ truyền giáo ngang hàng với Thánh Phanxico Xaviê. Qua biến cố này, ÐTC muốn nhắc lại, như ngài đã viết trong Sứ điệp Ngày thế giới truyền giáo năm nay, cũng là năm kỷ niệm 100 năm qua đời của Thánh Quan Thầy các xứ truyền giáo, (nhắc lại) trách nhiệm của mỗi người, như Thánh Têrêsa, đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa trong công việc rao giảng Tin Mừng. Trong sứ điệp về Ngày truyền giáo, công bố 28.5.97 vừa qua, sau khi nêu cao mối liên kết chặt chẽ giữa việc truyền giáo và đời sống cầu nguyện và hiệp thông sâu xa với Chúa và với hy sinh Thánh giá của Người, ÐTC nhấn mạnh: "không phải tất cả được gọi đi các xứ truyền giáo... Cái quyết định không phải "ở đâu", mà "như thế nào". Chúng ta có thể là những tông đồ đích thực và trong cách hiệu nghiệm hơn cả, giữa những bức tường của nhà ở chúng ta, trong chính nơi làm việc, trên giường bệnh, trong Tu viện Kín, như chính Thánh Nữ Têrêsa".

Nhân Ngày thế giới truyền giáo, qua Ðài Phát thanh Vatican, ÐHY Joseph Tomko, Tổng trưởng Bộ Phúc Âm hóa các dân tộc, gửi sứ điệp sau đây:

"Ngày thế giới truyền giáo năm nay trùng hợp với kỷ niệm 100 năm qua đời của Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu. Ðây là một sự trùng hợp rất tốt đẹp, ý nghĩa, nhưng không phải tình cờ: Vị Quan Thầy các xứ truyền giáo được tôn phong Tiến sĩ Hội Thánh chính lúc cử hành Ngày thế giới truyền giáo. Với đời sống và với giáo huấn Thánh Nữ cho chúng ta biết mỗi người có thể cộng tác một cách cụ thể và hiệu nghiệm vào sứ vụ truyền giáo". ÐHY nói tiếp: "Thánh Nữ Têrêsa là Quan Thầy các xứ truyền giáo mà không ra khỏi bức tường của Tu viện, bằng việc hiến dâng đời sống đầy tình yêu nồng nhiệt, đầy hy sinh và cầu nguyện cho việc truyền giáo trong thế giới và cũng bằng cách nâng đỡ một số nhà truyền giáo mà Thánh Nữ quen biết. Con đường của Thánh Nữ đơn sơ đến nỗi mỗi một người trong chúng ta có thể theo được. Thánh Nữ nói: "Trong lòng Giáo hội, người mẹ của tôi, tôi sẽ là tình yêu, như vậy tôi sẽ là tất cả".

Ðức Hồng Y Tổng trưởng kết thúc: "Ngày thế giới truyền giáo là một cơ hội không được bỏ qua, để gợi lại ý thức về bổn phận của tất cảù các người đã lãnh bí tích Rửa tội về hợp tác cách thiêng liêng và bằng vật chất để thực hiện chương trình của Chúa Cha là làm cho Chúa Kitô trở nên trung tâm của thế giới".

Roma ngày 18.10.97
P. Trần đoàn Kết, Lm.

     
           
     
Tường thuật Thánh Lễ Phong Tước Hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội
cho Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu
và Kinh Truyền Tin sau Thánh Lễ

Tường thuật Thánh Lễ Phong Tước Hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh cho Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan, tại Roma

(RG,19/10/97) Lúc 10 giờ sáng, Chúa Nhật 19/10/97, ÐTC Gioan Phaolô II đã chủ sự Thánh Lễ tại quảng trường thánh Phêrô, ở Roma, để mừng Ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, vừa đồng thời tôn phong tước hiệu "Tiến Sĩ Hội Thánh" cho thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan, qua đời cách đây 100 năm. Hơn 100 ngàn nguời đã tham dự thánh Lễ nầy, đặc biệt có sự tham dự của các sinh viên và giáo sư các Ðại Học Giáo Hoàng ở Roma, vì Thánh Lễ ngày Chúa Nhật này, cũng là thánh lễ truyền thống, ÐTC Gioan Phaolô II thường cử hành cho các giáo sư và sinh viên của càc Ðại Học Giáo Hoàng, vào đầu niên học mới 1997-1998. Ngay đầu thánh lễ, sau khi nghe lại tiểu sử của thánh nữ Têrêsa và lời thỉnh cầu của ÐHY xin ÐTC phong tước hiệu tiến sĩ cho thánh nữ, ÐTC đã đọc công thức bằng tiếng Latinh, công bố thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu và Thánh Nhan, tiến sĩ Hội Thánh, giữa sự vui mừng lớn lao của mọi người hiện diện. Trong bài giảng Thánh lễ, ÐTC đã nói như sau:

Trong số các vị thánh Tiến Sĩ Hội Thánh, Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan là vị thánh trẻ tuổi nhất. Nhưng con đường thiêng liêng của ngài cho thấy là hết sức trưởng thành và những trực giác của đức tin được diển tả trong các tác phẩm của thánh nữ là thật rộng rải và thật sâu xa, đến độ ThánhNữ đáng được đặt vào số những vị thầy vĩ đại của đời sống thiêng liêng. Trong tông thư tôi đã viết trong dịp nầy, tôi đã nhấn mạnh đến vài điểm nổi bật của giáo lý ngài. Nhưng làm sao mà không nhắc lại nơi đây, điều mà người ta có thể xem như là chóp đỉnh của giáo lý của thánh nữ, từ lời thánh nữ kể lại về việc ngài khám phá ơn gọi của mình trong Giáo Hội? Ðoạn tự thuật đó như sau:

"Tình Thương Bác Ái là chìa khóa của ơn gọi tôi. Tôi đã hiểu rằng, nếu Giáo Hội có một thân thể, gồm có nhiều chi thể, thì chi thể cao thượng nhất không thiếu. Tôi đã hiểu rằng Giáo Hội có một trái tim, và trái tim nầy cháy lửa yêu mến. Tôi được hiểu rằng chỉ tình yêu thương mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hoạt động, rằng nếu tình thương bị tắt đi, các tông đồ không rao giảng phúc âm nữa, các vị tử đạo sẽ không chịu đổ máu mình ra nữa. Tôi đã hiểu rằng tình yêu thương bao gồm tất cả mọi ơn gọi. Bấy giờ trong niềm vui trào dâng, tôi đã thốt lên như sau: Lạy Chúa Giêsu, tình yêu của con, Con đã gặp được ơn gọi của con rồi. Ơn gọi của con, chính là tình yêu" (MS B, 3V)

Ðó là trang nhật ký đáng phục tự nó đủ để chứng minh rằng người ta có thể áp dụng cho thánh Têrêsa đoạn phúc âm mà chúng ta vừa nghe qua trong phần phụng vụ lời Chúa: Lạy Cha, là Chúa trời đất, con dâng lời chúc tụng cha, vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé nhỏ biết và giấu không cho kẻ khôn ngoan hiền triết biết" (Mt 11,25).

Vào cuối thánh lễ trước khi ban phép lành kết thúc, ÐTC đã nói vài lời về lòng sùng kính Ðức Mẹ nơi thánh Têrêsa.


Những Lời ÐTC nói trước khi đọc Kinh Truyền Tin (Angelus) trưa Chúa Nhật 19/10/97, về Lòng sùng kính Mẹ Maria của thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng, tân tiến sĩ Hội Thánh
Vào cuối thánh lễ Chúa Nhật Truyền Giáo, trong đó thánh Nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng được phong tước hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh, ÐTC đã nói thêm vài lời về Lòng Sùng Kính Mẹ Maria của Thánh Nữ, trước khi đọc kinh Truyền Tin với mọi người hiện diện. ÐTC đã nói như sau:

Trong ngày Quốc Tế Truyền Giáo hôm nay, chúng ta đã chú ý đến Thánh Nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan, mà Cha đã vui mừng tuyên bố làm Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh nữ là mẩu gương cho sự dấn thân truyền giáo và là quan thầy của các xứ truyền giáo, mặc dù không bao giờ rời tu viện dòng kín tại Lisieux. Nguời ta có thể nói rằng Thánh Nữ Têrêsa đã thực hiện nơi chính mình dự định đặc biệt truyền giáo của Mẹ Maria rất thánh, Ðấng đã linh động, bằng sự hiện diện cầu nguyện và bằng đức bác ái trọn hảo, (linh động) cộng đoàn đầu tiên các tông đồ, ngỏ hầu sức sinh động đã được Chúa Thánh Thần khơi dậy trong ngày Lễ Hiện Xuống, thôi thúc cho công việc rao giảng Tin Mừng cho đến tận cùng trái đất. Mối liên hệ của thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng với Mẹ Maria là thật sâu xa ngay từ tuổi thơ. Thêm vào kinh nghiệm không thể quên được về nụ cười của Mẹ Maria, mà thánh nữ nhìn thấy được trên gương mặt của bức tượng Mẹ Maria đặt trong phòng mình (x. MS A,30R), thánh Têrêsa còn cho rằng cuộc lành bệnh lạ lùng lúc lên mười tuổi là do Mẹ Maria. "Ðức bà của Nụ Cười" cũng đến đứng bên giường thánh nữ trong phòng bệnh, nơi thánh Têrêsa kết thức cuộc đời ngắn ngủi, bị tiêu hao vì bệnh lao. Tinh thần phó thác con thảo cho Mẹ Maria đã ghi dấu trọn cả cuộc đời của thánh Têrêsa. Tinh thần phó thác nầy ngày nay được đề ra cho tất cả mọi người chúng ta bắt chước. Nguyện xin Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng giúp chúng ta yêu mến, bước theo và noi gương Ðức Nữ Ðồng Trinh, là Mẹ và là Nữ Vương của tất cả các vị thánh.

Sau những lời trên, ÐTC ngỏ lời đặc biệt riêng cho các nhóm khác nhau hiện diện trong Thánh Lễ. Trước hết là nhóm tín hữu nói tiếng Ý, trong số nầy có các giáo sư và sinh viên của các đại học giáo hoàng tại Roma, nhân dịp khai mạc nămhọc mới 1997-1998. ÐTC mời gọi hãy nhận lảnh bài học hùng hồn của thánh nữ Têrêsa. ÐTC nói: Ước gì tất cả những ai được gọi chiêm ngắm và thông truyền những sự thật của Ðức Tin cho anh chị em, biết vun trồng sự tín thác thân tình với Thiên Chúa; thái độ tín thác nầy là đặc điểm riêng của những kẻ bé nhỏ,những nguời khiêm tốn. Với những nhóm tín hữu nói tiếng Pháp, nhất là những ai đến từ Lisieux, nơi thánh Têrêsa đã sống, ÐTC mời gọi hãy noi gương đời sống thiêng liêng và lòng can đảm tông đồ của thánh Têrêsa. Với những anh chị em tín hữu nói tiếng Anh, ÐTC mời gọi hãy noi gương thánh Têrêsa sống hoàn toàn hiến thân cho tình yêu Chúa; cuộc sống hiến thân cho tình yêu Chúa nầy được thánh nữ Têrêsa thể hiện trong sự chiêm niệm, trong đời sống chung và trong mối quan tâm rao giảng Phúc Âm cho đến tận cùng trái đất.

(Ðến đây, ÐTC đọïc kinh truyền tin và ban phép lành cho tất cả)

Ðó là vài tâm tình của ÐTC Gioan Phaolô II về thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng, tân tiến sĩ Hội Thánh, trước khi đọc kinh Truyền Tin với các tín hữu trưa Chúa Nhật vừa qua.

     
           
     

Bài giảng của ÐTC
trong thánh lễ
Phong Tước Hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh
cho Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng

Bài giảng của ÐTC Gioan Phaolô II trong thánh lễ Chúa Nhật Truyền Giáo. ÐTC nhắc lại những điểm nổi bậc trong cuộc đời và con đường thiêng liêng của Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng vừa được phong tước hiệu "Tiến Sĩ Hội Thánh".

ÐTC trước hết nhắc đến ý nghĩa của Ngày Chúa Nhật Truyền Giáo và sự trùng hợp "cố ý" của việc phong tước hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh cho Thánh Nữ Têrêsa, quan thầy của các xứ truyền giáo vào đúng ngày Chúa Nhật nầy. Sau đó, ÐTC nói về dung mạo và con đường thiêng liêng của Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng, như sau:

2. Têrêsa Martin, một nữ tu dòng kính tại Lisieux, đã hết sức ao ước trở thành nhà truyền giáo. Và đã thật sự là nhà truyền giáo, đến độ được phong làm Vị Bổn Mạng của các Xứ Truyền Giáo. Chính Chúa Giêsu đã chỉ cho thánh Têrêsa biết có thể sống ơn gọi truyền gíao đó như thế nào: trong việc thực hành trọn vẹn giới răn yêu thương, thánh nữ đã đặt mình vào trong trung tâm của sứ mạng của giáo hội, và nâng đỡ những vị rao giảng Phúc âm bằng sức mạnh huyền nhiệm của việc cầu nguyện và việc rước lễ lảnh nhận Mình Máu Thánh Chúa. Như thế Thánh Nữ đã thực hiện điều được Công Ðồng Vatican II nhấn mạnh, khi dạy rằng Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo (x. Ad gentes,2). Không phải chỉ những ai đã chọn cuộc sống ra đi truyền giáo, nhưng còn tất cả những kẻ đã lảnh nhận bí tích Rửa Tội, một cách nào đó, đều được sai đi truyền giáo cho các dân nước. Vì thế mà Cha đã muốn chọn ngày Chúa Nhật Truyền Giáo để tuyên bố tước hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh phổ quát cho thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan, một người nữ trẻ tuổi, sống đời chiêm niệm.

3. Không ai mà không nhìn thấy rằng ngày hôm nay đang được thực hiện một điều lạ lùng. Thánh Têrêsa thành Lisieux đã không tốt nghiệp Ðại Học hay học qua những môn học nào cả. Thánh nữ đã qua đời lúc còn trẻ; tuy nhiên, từ nay trở về sau, thánh nữ được tôn kính như là "vị tiến sĩ của Hội Thánh", một sự nhìn nhận có giá trị đưa thánh nữ vào trong sự tôn trọng của toàn thể cộng đồng Kitô, vượt quá điều mà một "văn bằng Ðại Học" có thể làm.

Thật vây, khi quyền Giáo Huấn Giáo Hội tuyên bố một vị nào đó "Tiến sĩ Hội Thánh", thì Giáo Hội muốn lưu ý cho tất cả mọi tín hữu, và một cách đặc biệt cho tất cả những ai đang chu toàn trong giáo hội công việc phục vụ căn bản là giảng huấn, hay đang chu toàn trách vụ đầy tế nhị của việc nghiên cứu và giảng dạy thần học, biết rằng giáo lý được tuyên xưng và được rao giảng của vị thánh tiến sĩ đó, có thể dùng làm điểm quy chiếu, không những vì nó phù hợp với sự thật mạc khải, nhưng vì nó còn mang đến một ánh sáng mới cho những mầu nhiệm Ðức Tin, mang đến một sự hiểu sâu xa hơn về Mầu Nhiệm Chúa Kitô.

4. Trong số những vị tiến sĩ Hội Thánh, thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng và Thánh Nhan, là vị trẻ nhất, nhưng con đường thiêng liêng cho thấy là thật trưởng thành, và những trực giác đức tin được diển tả trong các tác phẩm của thánh nữ, là thật bao la rộng rải và sâu xa, đến độ làm cho thánh nữ có được chổ đứng của mình giữa những bậc thầy thiêng liêng vĩ đại.

Trong bức tông thơ mà tôi đã trích lại trong dịp nầy, tôi đã nhấn mạnh đến vài khía cạnh nổi bật của giáo lý của thánh nữ. Nhưng làm sao mà không nhắc lại nơi đây, điều mà người ta có thể xem như là chóp đỉnh của giáo lý của thánh nữ, do từ lời thánh nữ kể lại về việc ngài khám phá ơn gọi của mình trong Giáo Hội? Ðoạn tự thuật đó như sau:

"Tình Thương Bác Ái là chìa khóa của ơn gọi tôi. Tôi đã hiểu rằng, nếu Giáo Hội có một thân thể, gồm có nhiều chi thể, thì Giáo Hội không thiếu những chi thể cao thượng. Tôi đã hiểu rằng Giáo Hội có một trái tim, và trái tim nầy cháy lửa yêu mến. Tôi được hiểu rằng chỉ tình yêu thương mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hoạt động, rằng nếu tình thương bị tắt đi, các tông đồ không rao giảng phúc âm nữa, các vị tử đạo sẽ không chịu đổ máu mình ra nữa. Tôi đã hiểu rằng tình yêu thương bao gồm tất cả mọi ơn gọi.. Bấy giờ trong niềm vui trào dâng, tôi đã thốt lên như sau: Lạy Chúa Giêsu, tình yêu của con, Con đã gặp được ơn gọi của con rồi. Ơn gọi của con, chính là tình yêu" (MS B,, 3 V). Ðó là trang nhật ký đáng phục, tự nó đủ để chứng minh rằng ngưuời ta có thể áp dụng cho thánh Têrêsa đoạn phúc âm mà chúng ta vừa nghe qua trong phần phụng vụ lời Chúa: Lạy Cha, là Chúa trời đất, con dâng lời chúc tụng cha, vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé nhỏ biết và giấu không cho kẻ khôn ngoan tài trí biết" (Mt 11,25).

5. Thánh Têrêsa thành Lisieux không những đã lỉnh hội và thuật lại chân lý sâu xa của tình yêu như là trung tâm và con tim của Giáo Hội, nhưng thánh nữ còn sống hết sức trọn vẹn sự thật đó trong cuộc đời ngắn ngủi của mình. Chính sự hòa hợp giữa giáo lý và kinh nghiệm cụ thể, giữa sự thật và đời sống, giữa việc giảng dạy và thực hành, (chính sự sự hòa hợp nầy) chiếu sáng thật rõ ràng trong sự thánh thiện, và làm cho thánh nữ trở thành mẩu gương đặc biệt thu hút những người trẻ và những ai đi tìm ý nghĩa thật cho đời sống họ.

Trước cái trống rổng của nhiều lời nói, thánh nữ Têrêsa trình bày một giải pháp khác, trình bày Lời Cứu Rỗi duy nhất, Lời mà một khi được hiểu và sống trong sự im lặng, trở thành nguồn mạch cho đời sống được canh tân. Ðối diện với một nền văn hóa duy lý và thường quá bị xâm chiếm bởi chủ nghĩa duy vật thực hành, thánh nữ Têrêsa đề ra, một cách đơn sơ nhưng không gì cưởng lại được, đề ra "con đường nhỏ, con đường dẩn đến bí quyết của mọi cuộc sống bằng việc trở về lại với điều thiết yếu: đó là Tình Yêu Thiên Chúa; Tình Yêu nầy bao bọc và thấm nhập mọi cuộc sống con người. Trong một thời đại như thời đại chúng ta hôm nay, một thời đại thường bị ghi dấu bởi nền văn hóa đề cao cái tạm bợ hảo huyền và bởi tinh thần tìm hưởng lạc thú, Thánh Nữ Tân Tiến Sĩ Hội Thánh cho thấy có tài tác động hữu hiệu đặc biệt, để soi sáng tinh thần và con tim của những ai khao khát tình thương và sự thật. Trong tình yêu hăng say đối với công cuộc rao giảng Phúc âm, thánh Têrêsa chỉ có một lý tưởng mà thôi, như chính thánh nữ đã nói như sau: Ðiều mà chúng ta xin Chúa, là được làm việc cho danh Chúa được cả sáng, là yêu mến Chúa và làm cho Chúa được yêu mến" (thơ 220). Con đường mà thánh nữ đã đi qua để đạt đến lý tưởng sống nầy, không phải là con đường của những công việc to lớn, được dành riêng cho một số ít, nhưng ngược lại là con đường vừa tầm tất cả mọi người, con đường nhỏ, con đường của sự tin tưởng và phó thác hoàn toàn chính mình cho ân sũng của Chúa. Ðây không phải là con đường tầm thường, bị hạ thấp xuống, như thể đây là con đường ít đòi hỏi hơn. Trong thực tế, đây là con đường rất đòi hỏi, như Phúc Âm Chúa luôn luôn là một điều đòi hỏi. Ðây là con đường trong đó người ta được thấm nhuần trong ý thức phó thác đầy tin tưởng vào tình thương nhân từ của Thiên Chúa, Ðấng làm cho nhẹ đi cả sự dấn thân thiêng liêng nghiêm khắc nhất.

Kết thúc bài giảng, ÐTC dâng lên Thiên Chúa Cha lời cầu nguyện như sau:

Vâng lạy Cha, cùng với Chúa Giêsu, chúng con chúc tụng Cha, vì Cha đã giấu những bí quyết của Cha không cho kẻ thông minh và khôn ngoan biết, nhưng đã mạc khải chúng cho những kẻ bé nhỏ, mà ngày nay cha đề ra cho chúng con chú ý và bắt chước.

Xin cám ơn Cha vì sự khôn ngoan Cha đã ban cho thánh Têrêsa, vừa làm cho thánh nữ trở nên cho toàn thể Giáo Hội một chứng nhân đặc biệt và một vị thầy của cuộc sống. Xin cảm tạ Cha vì tình yêu thương Cha đã đổ tràn trong thánh nữ, một tình yêu luôn tiếp tục soi sáng và sưởi ấm các con tim, vừa thôi thúc họ tiến đến sự thánh thiện. Chớ gì Ước nguyện mà Thánh Têrêsa đã nói lên, là được "sống suốt thời gian trên thiên đàng để làm điều phúc cho trần gian" (Tác phẩm toàn thư, trg 1050), (chớ gì nguyện ước đó) luôn được thực hiện một cách kỳ diệu. Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha, vì hôm nay Cha làm cho thánh nữ Têrêsa gần chúng con với tước hiệu mới, để chúc tụng và tôn vinh Cha mãi mãi đến muôn đời. Amen.

     
           
     

Con đường
trưởng thành thiêng liêng
của Thánh Têrêsa Hài Ðồng


I. Cầu Nguyện với Têrêsa. Tin và Tín Thác vào Tình Yêu Chúa
Ngày mùng 9 tháng 11 năm 1996, các giám mục Pháp đã gởi đến các tín hữu một bức thơ mục vụ trong đó có đoạn viết như sau:

"Trong năm 1996 nầy, năm chúng ta mừng lễ một trăm năm qua đời của thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, chúng ta nhìn nhận trong đời sống và cái chết của vị nữ tu dòng kín Carmel tại Lisieux mối tương quan được thiết lập giữa đức tin sâu xa được sống thật cho đến tận cùng và sự tham dự vào sứ mạng Kitô trong thế giới. Thánh nữ Têrêsa đã trờ thành vị tông đồ của những tông đồ và là sự nâng đở của các nhà truyền giáo, vì đã hiến dâng chính mình cho tình yêu nhân từ của Thiên Chúa Cha trên trời."

Và không phải chỉ có tiếng nói của các Giám Mục Pháp mà thôi. Trong thời gian một trăm năm qua, đã có nhiều tiếng nói khen ngợi và giải thích thêm con đường tu đức của thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng, mà chúng ta không thể nào lặp lại tất cả nơi đây. Năm 1970, khi viết tập sách nói về kinh nghiệm làm việc tông đồ giữa những anh chị em thợ thuyền tại thủ đô Paris, có tựa đề là Thành Phố Paris Marxit và Xứ Truyền Giáo, Bà Madeleine Delbrêl đã có nhận xét như sau về thánh nữ Têrêsa, bổn mạng của những nhà truyền giáo:

Thánh nữ Têrêsa, bổn mạng của những xứ truyền giáo, đã được an bài để sống vào cuối thế kỷ 19, trong một khoảng thời gian thật ngắn (24 năm tuổi đời và 9 năm tu dòng), với những công việc kể như là thật nhỏ (như suy niệm, làm việc thông thường phục vụ cộng đoàn, sống trong nhà dưỡng bệnh), nhưng với sự anh hùng mà đôi mắt thường không thể nhận ra được (vì lúc đó không chị em nào đã lưu ý đến sự thánh thiện của Têrêsa); thánh nữ đã sống truyền giáo trong giới hạn của vài thước vuông của tu viện kín, để dạy cho chúng ta biết rằng có những hình thức hiệu nghiệm tông đồ vượt ra khỏi mức độ đo lường của sự kiêu ngạo, rằng những gì nhìn thấy được nơi nhửng hành động không luôn luôn tương xứng với giá trị thật của hành động đó, rằng những hoạt dộng truyền giáo theo chiều rộng cần phải được đi đôi với hoạt động truyền giáo theo chiều sâu, cho đến tận cùng, nơi mà tinh thần con người đặt vấn đề chất vấn thế giới và phân vân giữa một bên là mầu nhiệm của một vì Thiên Chúa muốn làm cho tinh thần con người trở nên bé nhỏ trần trụi, và bên kia là mầu nhiệm của thế giới muốn cho tinh thần con người được cao cả uy quyền.

Như bao người khác, chúng ta muốn khám phá và đi sâu vào Mầu Nhiệm hiện diện nơi thánh nữ Têrêsa và đã làm cho thánh nữ trở thành nhà truyền giáo theo chiều sâu. Tuy bị đóng khung trong vài thước vuông của tu viện kín, thánh nữ đã cảm nghiệm và rao giảng tình thương nhân từ của Thiên Chúa và sự tín thác vô bờ vào ân sũng của Ngài, một sự tín thác không lay chuyển và luôn luôn nhiều hơn mãi. Lòng tín thác nầy đã không rời bỏ thánh nữ, cả khi thánh nữ, vào Chúa Nhật Phục Sinh năm 1896, bị rơi vào trong đám mây đen dày đặc; và đám mây đen dày đặc nầy không bao giờ rời thánh nữ cả cho đến giờ chết, và làm cho tư tưởng của thành nữ hướng về trời ? một tư tưởng hết sức thân yêu của thánh nữ ? trở thành nổi khổ tâm và làm phát sinh cuộc chiến dày vò nội tâm. Chúng ta muốn đi lại con đường thiêng liêng của thánh Têrêsa, con đường của đức tin luôn trung thành, đi qua đau khổ và bóng tối đức tin, cho đến sự trưởng thành trong tình liên đới với những kẻ tội lỗi không tin, cho đến việc đến ngồi cùng bàn với họ mà không tham dự vào tội lỗi của họ. Kinh nghiệm thiêng liêng của thánh nữ cũng là kinh nghiệm thiêng liêng của mọi người Kitô, của mỗi người chúng ta, những kẻ đang phải đối diện với sự không tin thực hành và nhữngï suy tư lộn xộn của thế giới ngày nay. Chúng ta đến với thánh nữ Têrêsa, để xin thánh nữ giúp chúng ta thanh luyện và cũng cố Ðức Tin. Xin Thánh Nữ giúp chúng ta được ơn can đảm của đức tin và sẳn sàng phục vụ cho Ðức Tin. Tin là hồng ân của Thiên Chúa. Tin Chúa mà không cần những sự an ủi, không đi tìm sự nâng đở của con người. Tin và phó thác cho tình yêu của Chúa mà thôi.

Lạy thánh nữ Têrêsa, xin thương cầu cùng Chúa cho chúng con được ơn Chúa Thánh Thần. Xin cầu cùng Chúa cho chúng con được ơn Ðức Tin tinh tuyền, vững mạnh, có đủ sức vượt qua đêm tối thử thách, đang phủ lên môi trường chúng con sinh sống. Xin cho chúng con được một lòng tín thác vào tình yêu Chúa như thánh nữ. Amen.


II. Những thử Thách trên con đường trưởng thành thiêng liêng của Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng.
"Ơn gọi của tôi là Tình Yêu". Và Thánh Nữ Têrêsa đã đi qua trên "Con Ðường Nhỏ" để thực hiện ơn gọi sống tình yêu đó. Con đường thiêng liêng nhỏ nầy được xem như là con đường đơn sơ, nghĩa là mở rộng cho tất cả mọi người, nhưng không phải vì thế mà không có tính cách đòi hỏi. Nói ngoài miệng thì xem ra dễ, nhưng nếu phải, và phải là như vậy, nếu phải "Yêu mến Chúa và yêu thương anh chị em" thật sự trong và bằng việc làm, dù là những việc làm đơn sơ, tầm thường, thì đây thật không phải là một điều tự động, dễ dàng đối với bản tính con người. Ði trên con đường nhỏ của tình yêu và sự phó thác cho Thiên Chúa Tình Yêu, thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng thường đã trải qua những thử thách.

Ðọc qua những lời tâm sự của thánh nữ trong Chuyện Một Tâm Hồn, chúng ta có thể lưu ý rằng Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng đã trải qua những tháng cuối cùng trước khi qua đời, trong thử thách Ðức Tin. Thánh nữ đã trải qua điều mà các nhà tu đức gọi là "đêm tối", những giây phút khó khăn, đời sống cầu nguyện trở nên khô khan. Cơn thử thách lớn đến với thánh nữ, bắt đầu từ Phục Sinh năm 1896, cho đến lúc qua đời, tức tháng 9 năm 1897. Thánh nữ tâm sự rằng: Tôi nghĩ tôi đã thực hiện những hành động tuyên xưng đức tin nhiều lần trong thời gian nầy, hơn là trong suốt đời tôi, từ trước cho đến lúc nầy (CMTH, trg 281).

Thánh Têrêsa đã không nói rõ ra bản chất của cuộc thử thách lớn về Ðức Tin mà thánh nữ trải qua, là như thế nào. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu được phần nào thử thách đó, một cách gián tiếp, bằng cách đặt nó trong toàn thể cuộc đời của thánh nữ, trong chuổi những thử thách nhỏ, thường ngày, mà thánh Têrêsa đã trải qua, ngay từ đầu.

Có thể nói rằng thánh Têrêsa đã tiến rất nhanh trên "Con Ðường Nhỏ", trong đời sống thiêng liêng. Thánh nữ vào dòng kín Carmelo ở Lisieux lúc mới 15 tuổi và 3 tháng, với tâm hồn có thể nói, là thật hăng say, và với ý chí mạnh mẽ muốn trở thành vị thánh lớn. Trong cuộc sống đan viện, Têrêsa đã trải qua nhiều đau khổ đủ loại. Và đau khổ lớn là căn bệnh của người Cha mà Têrêsa yêu mến nhất, và sự cô đơn mà Têrêsa cảm thấy trong đời sống tu trì: Têrêsa cảm thấy như không có ai quan tâm giúp đỡ mình cả. Bầu khí thiêng liêng của tu viện còn đượm ảnh hưởng của tinh thần khắc khổ Jansenisme. Têrêsa không bao giờ được rước lễ hằng ngày. Chị Paoline của Têrêsa, làm bề trên tu viện lúc đó, với tên dòng là Mẹ Maria Gonzague, cũng không cho phép Têrêsa được rước lễ hằng ngày. Ðiều nầy làm cho Têrêsa thêm đau khổ. Vì thế không lâu trước khi qua đời Têrêsa đã viết cho Mẹ Maria Gonzague như sau:

Thưa Mẹ, trên thiên đàng, con sẽ làm cho Mẹ đổi ý. Và thật sự, tám ngày sau khi thánh nử Têrêsa qua đời, vị tuyên úy mới của tu viện đã khuyên Mẹ Bề Trên Maria Gonzague hãy áp dụng sắc lệnh liên quan đến việc rước lễ hằng ngày.

Cuối năm 1894, Têrêsa khám phá ra "con đường nhỏ". Và năm 1895 cho đến Mùa Phục sinh năm 1896, Têrêsa sống trong niềm vui khám phá và tiến mạnh trên đường thiêng liêng. Ngày 9 tháng 6, Têrêsa dâng hiến chính mình cho tình yêu thương nhân từ của Chúa. Và hành động dâng hiến cho tình yêu nhân từ của Chúa là quả thật một cuộc cách mạng tu đức, bởi vì vào thời đó nguời ta "hiến dâng chính mình làm hy lễ cho sự công bằng của Thiên Chúa", hơn là cho tình thương nhân từ của Ngài. Têrêsa ghi lại trong nhật ký như sau:

Từ ngày hồng phúc đó, dường như là Tình Yêu Chúa xăm chiếm trọn vẹn con người tôi và bao phủ lấy tôi; trong mọi lúc tình yêu nầy xem ra như canh tân tôi, thanh luyện linh hồn tôi." (trg 241).

Nhưng vào Mùa Phục Sinh năm 1896, Têrêsa bắt đầu đi vào đêm tối của một thử thách lớn. Thử thách gì đây? Têrêsa chỉ bộc lộ phần nào cho những vị có trách nhiệm trên Têrêsa mà thôi. Với cha giải tội, với Mẹ Bề Trên Marie Gonzague. Chúng ta có thể đoán phần nào về thử thách lớn đó, trong vài hàng tự thuật như sau:

Trong những ngày vui mừng của Mùa Phục Sinh, Chúa Giêsu cho tôi cảm nghiệm rằng thật sự có những linh hồn không có đức tin. Chúa cho phép linh hồn tôi bị bao phủ bởi những bóng tối dày đặc, và rằng tư tưởng về Trời Cao, tư tưởng hết sức thân yêu đối với tôi trước đây, nay trở thành lý do chiến đấu và dày vò. Thử thách nầy không phải chỉ kéo dài rong vòng vài ngày hay vài tuần rồi thôi, nhưng được an bài kéo dài cho đến lúc Thiên Chúa muốn và lúc Thiên Chúa muốn kết thúc thử thách nầy thì nay vẩn chưa đến" (Chuyện một tâm hồn).

Trong một đoạn khác nữa, thánh Têrêsa đã viết về thử thách lớn đó như sau:

Khi tôi muốn cho tâm hồn tôi an nghỉ, một tâm hồn đã mệt mỏi vì những bóng tối từng bao vây lấy nó, thì nổi khổ tâm dày vò của tôi trở thành lớn hơn, vì nhớ đến vùng đất huy hoàng ánh sáng mà tôi đang hướng tới; tôi có cảm tưởng rằng, những bóng tối, khi làm tiếng nói của những kẻ tội lỗi, đùa giởn với tôi vừa nói với tôi rằng: Mi mơ ước ánh sáng, mơ ước một quê hương được bao bọc trong những hương vị dịu dàng nhất; mi mơ ước được chiếm hữu mãi mãi Ðấng Tạo Dựng tất cả mọi điều kỳ diệu nầy; mi mơ ước một ngày kia mi được giải thoát khỏi những đám mây mù đang vây quanh mi. Hãy tiến tới đi, hãy tiến tới đi, hãy vui mừng lên vì cái chết, sẽ mang đến cho ngươi không phải điều ngươi hy vọng, nhưng mang đến cho ngươi một đêm tối sâu đậm hơn nữa: đêm tối của hư vô" (Chuyện một tâm hồn, trg 281).

Qua những dòng tâm sự trên, chúng ta có thể học được bài học nầy cho chính đời sống thiêng liêng của chúng ta. Ðó là không thể và cũng đừng chạy trốn, tránh né, những thử thách Chúa cho phép xảy ra để tinh luyện đức tin, đức cậy và đức mến nơi chúng ta. Trước những thử thách, lớn nhỏ, chúng ta hãy noi gương của thánh nữ Têrêsa mà kiên trì tuyên xưng Ðức Tin của mình, kiên trì tín thác và nói lên tình yêu của ta đối với Chúa. "Trong giai đoạn thử thách cuối đời nầy, tôi đã tuyên xưng đức tin thật nhiều lần, nhiều hơn tất cả những lần tuyên xưng đức tin trong đời, từ trước đến nay". Chúng ta hãy noi gương thánh Têrêsa mà làm như vậy.

Lạy Chúa, con tin Chúa, con yêu mến Chúa. Xin thương gìn giữ con trong tình yêu Chúa mãi mãi. Amen.


III. Cầu Nguyện cho những kẻ tội lỗi.
Khi hay tin một tử tội là anh Enrico Pranzini sắp bị hành quyết vì đã cố sát ba người phụ nử, Têrêsa lúc đó chưa đi tu và được 14 tuổi, đã dâng lời cầu nguyện cho anh Pranzini được ơn ăn năn trở lại. Và lời cầu nguyện của Têrêsa đã được Chúa chấp nhận. Trước khi bước lên dàn máy chém, anh Pranzini đã hôn kính ảnh Thánh Giá Chúa. Sau nầy, sau khi đã đi tu dòng kín, Têrêsa kể lại phản ứng của mình trong tập nhật ký tự thuật như sau: "Cần phải cứu rỗi linh hồn anh Pranzini. Tôi đã cầu nguyện, và đã dâng những hy sinh cho anh. Cần xin Chúa Giêsu cứu rỗi anh Pranzini". Têrêsa không ngần ngại tuyên bố: "Anh Pranzini là người con đầu tiên của tôi."

Cầu nguyện cho người tội lỗi được ơn cứu rỗi, đó là một trong những lý do chính thôi thúc Têrêsa vào tu dòng kín (Chuyện Một Tâm Hồn, trg 549-553).

Rồi lúc đã vào dòng kín Lisieux, khi cầu nguyện có lúc Têrêsa như cảm thấy mình vượt ra khỏi những bức tường của tu viện, để ngồi vào bàn với những kẻ tội lỗi, như Chúa Giêsu được kể trong phúc âm, là đấng đến ngồi đồng bàn ăn uống với những kẻ tội lỗi, những người thu thuế. Têrêsa có thể nói như là "sống kinh nghiệm đêm tối của những kẻ tội lỗi và cầu nguyện cho họ." Têrêsa ghi lại trong tập Tự Thuật của mình như sau (trg 2280):

Lạy Chúa, người con của Chúa đây đã hiểu được ánh sáng của Chúa, và xin Chúa tha thứ cho những anh chị em của mình. Nguời con của Chúa đây chấp nhận, trong suốt thời gian mà Chúa muốn, chấp nhận ăn bánh của đau khổ và không muốn đứng dậy rời khỏi bàn ăn đầy những sự phiền muộn nầy, nơi những kẻ tội lỗi đáng thương ngồi ăn, cho đến ngày nào Chúa định cách khác. Như thế, thử hỏi nguời con của Chúa không nói lên được như thế nầy hay sao: "Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, bởi vì chúng con là những kẻ tội lỗi đáng thương" (Luca 18,13). Lạy Chúa, xin ban cho chúng con được ra về với một con người đã được công chính hóa. Ước chi tất cả những ai không được ngọn lửa Ðức Tin soi sáng, thì có thể được nhìn thấy Ðức Tin họ chiếu sáng lên. Lạy Chúa Giêsu, nếu bàn ăn mà những người tội lỗi đã làm dơ bẩn đi, cần được tẩy sạch bởi một linh hồn yêu mến Chúa, thì con đây xin chấp nhận ngồi tại đó để ăn bánh thử thách cho đến khi Chúa muốn đưa con vào nơi đầy ánh áng của Chúa. Ân sủng duy nhất con cầu xin Chúa ban cho con là đừng để con xúc phạm đến Chúa bao giờ! (trg 280).

Những dòng tâm sự trên mở ra cho chúng ta nhìn thấy một đặc điểm của tinh thần Têrêsa: trước những điều tiêu cực, những tội lỗi của con người thời đại sống xung quanh mình, Têrêsa không bao giờ lên tiếng chỉ trích hay chống đối. Ngược lại, Têrêsa noi theo gương Chúa, đến ngồi vào bàn với những kẻ tội lỗi, chấp nhận lãnh lấy những đêm tối, những thử thách, những đau khổ, để cầu nguyện cho họ được ăn năn hối cải, được ơn cứu rỗi. Têrêsa gọi những kẻ "không tin, chống đạo" của thời mình là những "anh chị em" của mình, và chấp nhận đến ngồi vào bàn của họ, ngỏ hầu họ"được ánh sáng Chúa soi chiếu". Têrêsa chiến đấu chống lại những thử thách đức tin, những tội lỗi của anh chị em, bằng chính những đau khổ hy sinh của mình, bằng việc dâng những hy sinh, đau khổ và thử thách cho Chúa để cầu nguyện cho kẻ tội lỗi. Têrêsa đã tâm sự thêm về bí quyết sống nầy như sau:

"Tôi chạy đến Chúa Giêsu của tôi và nói với Chúa rằng tôi sẳn sàng đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng, để làm chứng rằng có Thiên Ðàng. Tôi nói với Chúa là tôi lấy làm sung sướng hy sinh không nếm hưởng cảnh Thiên Ðàng nầy trên mặt đất, để xin Chúa mở cửa cỏi đời đời cho những kẻ không tin đáng thương" (trg 282).

Những kẻ tội lỗi, những kẻ không tin, những kẻ chống đối Chúa, là những con người được Têrêsa yêu mến trước tiên và dâng những hy sinh để cầu nguyện cho những anh chị em ấy. Chúng ta hãy noi theo mẩu gương nầy của thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng.

Lạy Chúa, xin thay đổi tâm hồn chúng con, cho con biết sống yêu thương và cầu nguyện trước hết cho những kẻ làm phiền lòng con, làm phiền lòng Chúa, xúc phạm đến con, xúc phạm đến Chúa. Xin thương tha thứ cho chúng con, và chấp nhận những hy sinh đền bù của chúng con. Amen.


IV. Bí Quyết Thánh Têrêsa đương đầu với những thử thách.
Trên bình diện tự nhiên, đối với một người trẻ 24 tuổi biết mình mắc bệnh nan y sắp chết, thì điều nầy là một thử thách khủng khiếp biết là chừng nào? Thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng đã phản ứng đối với thử thách nầy ra sao? Thưa, bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần Lời Tuyên Xưng Ðức Tin. Têrêsa nói lên thái độ sẳn sàng của mình như sau: "Lạy Chúa, con sẵn sàng đổ hết máu mình ra để xác nhận Lời Kinh "Tôi TIN"." Với chứng bệnh lao nan y vào thời đó mà mình đang phải chịu, và với cái chết gần bên, Têrêsa thấy mình bị thử thách thật nặng nề. Nhưng trong chính lúc thử thách đó, Têrêsa không ngừng tuyên xưng đức tin và thốt lên với Chúa lời quả quyết đầy xác tín: Con Yêu mến Chúa. Nếu có dịp đến thăm căn phòng của Têrêsa tại tu viện kín ở Lisieux, khách hành huơng có thể nhìn thấy khắc trên cửa phòng lời tuyên xưng như sau: "Chúa Giêsu là tình yêu duy nhất của tôi". Sau khi Têrêsa qua đời, và trong dịp làm án phong thánh cho Têrêsa, một số các nữ tu Carmelô đã tỏ ra hơi bực mình với Têrêsa, chỉ vì họ nghĩ là một vị thánh không nên viết chữ vào tường như vậy. Theo họ, làm như thế là lỗi nhân đức khó nghèo! Thế nhưng tại sao Têrêsa đã phải khắc những dòng chữ "Chúa Giêsu là tình yêu duy nhất của tôi" vào cửa phòng mình như vậy? Các nhà nghiên cứu con đường tu đức của thánh Têrêsa cho rằng, sở dĩ thánh Têrêsa phải khắc lời tuyên xưng đó trên cửa gỗ, là để tuyên xưng lòng tin mạnh mẽ của mình. Thử thách lo lớn có thể thắng thế. Những dòng chữ khắp trên gỗ nằm sờ trước mắt luôn luôn, là một trợ giúp cho Têrêsa đừng bỏ cuộc chịu thua. Và không phải chỉ tuyên xưng đức tin, tuyên xưng tình yêu mà thôi, thánh Têrêsa còn tuyên xưng niềm vui nữa. Thánh Têrêsa tâm sự:

Mặc cho thử thách cất mất đi mọi niềm vui khỏi tôi, tôi vẫn còn có thể tuyên xung: "Lạy Chúa, Chúa đổ tràn niềm vui xuống trên con, trong tất cả mọi việc Chúa làm cho con."

Câu "Lạy Chúa, Chúa đổ tràn niềm vui xuống trên con trong tất cả mọi việc Chúa làm cho con", là câu Têrêsa trích ra từ thánh vịnh 91. Và Têrêsa viết lại câu nầy trên sách Phúc âm của mình. Trong nét viết, Têrêsa ghi đậm hai chữ NIỀM VUI và TẤT CẢ. Trong tập nhật ký, Têrêsa giải thích thêm như sau:

Thử hỏi có niềm vui nào to lớn hơn niềm vui được chịu đau khổ vì yêu mến Chúa hay không? Lạy Chúa, sự đau khổ càng sâu xa trong tâm hồn, và càng ẩn dấu, không xuất hiện trước mắt các tạo vật, thì nó càng làm cho Chúa vui lòng. Và giả như, và điều nầy không bao giờ xảy ra được, giả như Chúa không biết gì về sự đau khổ của con, thì con cũng sung sướng chịu đau khổ, nếu như nhờ đau khổ đó, mà con có thể ngăn cản được hay đền bù cho một tội lỗi chống lại Ðức Tin" (trg 282).

Têrêsa cũng đã sáng tác một số bài thơ. Ðược dịp thưởng thức những bài thơ đó, các nữ tu trong đan viện nhận xét rằng: Têrêsa không gặp vấn đề khó khăn nào cả. Têrêsa luôn luôn sống an vui hạnh phúc. Mọi sự đều tốt đẹp". Nhưng đó là những nhận xét từ bên ngoài. Têrêsa biết rõ mình hơn ai hết, và đã ghi lại những dòng tâm sự sau đây:

Trong thực tế, nếu xét theo những tâm tình mà tôi diển tả trong các bài thơ được sáng tác trong năm nay, tôi xem ra như có một tâm hồn tràn đầy những niềm an ủi và tấm màn Ðức Tin xem ra như đã bị xé tan; nhưng, đới với tôi, không phải là màn che nữa, mà là bức tường cao lên đến tận trời và ngăn cản không cho tôi nhìn thấy vòm trời đầy sao. Khi tôi hát lên niềm hạnh phúc của Trời Cao, hát lên việc đời đời có được Thiên Chúa, thì tôi không cảm nếm niềm vui nào cả, bởi vì tôi chỉ hát lên một cách đơn sơ những gì tôi quyết định TIN. Thật ra, đôi khi một tia sáng nhỏ của Mặt trời soi chiếu vào trong những bóng tối che phủ lấy tôi; lúc đó thử thách ngưng lại đôi chút, nhưng sau đó, việc nhớ lại tia sáng đó, thay vì tạo ra trong tôi niềm vui, thì nó lại làm cho những bóng tối đang bao phủ lấy tôi trở nên dày đặc hơn nữa. (22, chuyện một tâm hồn).

Như thế, chúng ta có thể rút ra kết luận cụ thể nầy là Ðức Tin và việc tuyên xưng đức tin là phương thế được Têrêsa dùng để chịu đựng những thử thách, để giữ được Niềm Vui trong tâm hồn giữa những thử thách. "Sự đau khổ càng ẩn khuất khỏi mắt người đời, thì càng vui lòng Chúa". Không những cần phải âm thầm làm việc tốt phục vụ anh chị em và không nên khoe khoảng hay ỉ lại, mà còn phải biết âm thầm chịu đau khổ vì tình yêu Chúa. Chính Chúa, đấng nhìn thấy rõ mọi sự, sẽ thưởng công cho chúng ta, cho chúng ta nếm hưởng niềm Vui nội tâm, giữa những đau khổ thử thách. Têrêsa đã lưu ý điểm nầy, trong một đoạn thơ gởi cho Mẹ Bề Trên Marie Gonzague như sau:

Thưa Mẹ của con, không bao giờ như trong lúc nầy, con đã cảm nghiệm được Chúa thật dịu dàng và nhân từ đối với con biết là chừng nào: Ngài đã gởi đến con thử thách nầy, vào lúc mà con còn có sức mạnh để chịu đựng. Nếu xảy ra lúc trước, thì con nghĩ là con có lẽ đã bị chím sâu vào trong thất vọng ngả lòng rồi. Giờ đây, thử thách đã cất đi tất cả những gì có thể được coi như là sự thỏa mãn tự nhiên trong ước muốn của con về Trời. Thưa Mẹ rất yêu dấu, bây giờ xem ra như không còn có gì có thể ngăn cản con ra đi, vì con không còn những ao ước to lớn nào khác, ngoại trừ ao ước sống yêu thương cho đến mức độ được chết vì tình thương (9 tháng 6) (trg 282-283).

Têrêsa đã viết những dòng trên vào ngày 9 tháng 6, ngày kỷ niệm việc Têrêsa dâng hiến chính mình cho tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa. Têrêsa đã không có thái độ nổi loạn, trách móc Thiên Chúa, vì thử thách phải chịu. Lúc nào Têrêsa cũng nhớ rõ sứ mạng duy nhất của đời mình: sứ mạng rao giảng Tình Thương của Thiên Chúa, sứ mạng hy sinh cầu nguyện cho những kẻ tội lỗi. Và lúc nào Têrêsa cũng nghỉ đến một người mà thôi, là Chúa Giêsu Kitô: Chúa là tình yêu duy nhất của Têrêsa.

Lạy Chúa, đấng đã an ủi thánh tông đồ Phaolô trong lúc gặp gian nan thử thách: Ơn Ta đủ cho con. Với các thánh, cũng như với mỗi người chúng con, Chúa cũng luôn bảo đảm như vậy: Ơn Ta đủ cho con. Xin cho con biết noi gương sống của Thánh Nữ Têrêsa Giêsu Hài Ðồng, luôn tín thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh. Amen.


V. Thử Thách cuối cùng của Têrêsa là được Kết Hiệp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chết trên thập giá.
Thánh Nữ Têrêsa thường nhắc đến "thử thách" phải trải qua vì tình yêu Chúa, nhưng rất kín đáo tế nhị, không bộc lộ nhiều về bản chất của thử thách đó. Chính vì thế mà các nhà tu đức học, khi đọc những dòng tự thuật của thánh nữ, đã có những giải thích khác nhau về "bản chất" của thử thách đó. Có người đã giải thích một cách cực đoan là thánh nữ Têrêsa đã bị thử thách về Ðức Tin và đã gần như mất Ðức Tin. Có những tác giả khác thì giải thích "thử thách của Têrêsa" trong viễn tượng "đêm tối tinh thần" mà Thiên Chúa dùng để thanh luyện linh hồn, theo quan niệm và kinh nghiệm thần bí của thánh Gioan Thánh Giá. Quả quyết cực đoan về thánh Têrêsa bị thử thách gần như mất đức tin thì quả thật là đi xa với những gì thánh Têrêsa tâm sự trong tập Tự Thuật. Mỗi lần bị thử thách, là mỗi lần Têrêsa lặp lại lời Tuyên Xưng Ðức Tin, như chúng tôi đã có dịp nhắc ở các bài suy niệm trước.Giải thích kinh nghiệm bị thử thách trong viển tượng "đêm tối tinh thần" nầy xem ra gần gủi với tư tưởng của Têrêsa hơn, vì thánh nữ có nhắc đến "sự thanh luyện đức tin và tình yêu" mà thánh nữ đã trải qua như sau:

"Giờ đây thử thách đó cất đi tất cả những gì có thể được coi như là thuộc về sự thỏa mãn tự nhiên trong ước muốn của Tôi hướng về Trời Cao."

Tuy nhiên, Ðức Cha GUY Gaucher, giám mục phụ tá của giáo phận Bayeux và Lisieux, tác giả của nhiều tập sách về Con Ðường Thiêng Liêng của Thánh Terêsa vừa đồng thời là một thành viên của nhóm xuất bản Tất Cả Những tác Phẩm của Thánh Têrêsa, đã muốn đi sâu hơn, và giải thích bản chất của thử thách mà Têrêsa phải chịu, là thử thách kết hiệp với Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chết trên thập giá. Thánh Têrêsa được mời gọi tham dự vào cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, để cứu rỗi các linh hồn, để cầu nguyện cho những kẻ không tin. Chi tiết củng cố cho giải thích nầy là trong suốt thời gian Têrêsa bị bệnh, trước khi qua đời, Thánh Têrêsa không bao giờ rời xa thánh giá Chúa Giêsu. Một trong những ảnh giấy về thánh nữ được nhiều người biết đến, là ảnh cho thấy Thánh Nữ Têrêsa ôm bó hoa hồng và cầm thánh giá Chúa trong tay. Thánh Nữ cũng đã thường nói như sau:

"Cái chết đẹp nhất cho và vì tình yêu đã xảy ra trên trần gian nầy, là cái chết của Chúa Giêsu, bởi vì không ai đã thấy cái chết của Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria; và cái chết của Chúa Giêsu là cái chết trên thập giá, trong sự khủng khiếp, và tôi nghĩ đây là điều mà tôi đang trải qua hiện nay".

Têrêsa nhìn nhận là thử thách nầy đã được Chúa gởi đến cho mình, trong khi mình còn đủ sức để chịu đựng. Chúa mời gọi thánh nữ thông phần vào cuộc Thương Khó của Chúa. Thật ra, tất cả mọi người Kitô, đồ đệ của Chúa, đều được mời gọi thông phần vào cuộc Thương Khó và Cái Chết của Chúa. Ðây là điều mà Chúa Giêsu gọi là "uống chén Chúa uống", "chịu phép Rửa Chúa chịu", khi trả lời cho hai môn đệ Giacôbê và Gioan xin được ngồi hai bên tả hữu của Chúa. Con Ðường Thiêng Liêng đơn sơ của Thánh Têrêsa thật không dễ dàng, không phải là một lối đi tắt về Trời mà không qua Mầu Nhiệm Thập Giá. Cần phải lớn lên trong đời sống thiêng liêng, qua Mầu Nhiệm Thập Giá Chúa. Thánh Nữ Têrêsa gặp thử thách, nhìn vào Thập Giá Chúa, nhưng không dừng lại ở Thập Giá. Thánh nữ nhìn Thập Giá, nhưng lại thấy Tình Yêu. ÐHY Carlo Maria Martini trong bài giảng cho phái đoàn hành hương tại bàn thờ tôn kính Thánh Têrêsa trong Vương Cung Thánh Ðường ở Lisieux, ngày 5 tháng 2 năm 1997, đã gọi kinh nghiệm thiêng liêng nầy của thánh Têrêsa là "kinh nghiệm sống những thử thách, những nghịch cảnh, những điều trái ý, theo ánh sáng của Tình yêu Nhân Từ của Chúa". ÐHY đã nói như sau:

Chúng ta xác tín rằng điểm trung tâm của đời sống và giáo lý của Thánh Têrêsa Giêsu Hài Ðồng là Tình Yêu. Như thế, không phải đêm tối, không phải thử thách đức tin, không phải những hy sinh, nhưng chính Tình Yêu nhân từ của Thiên Chúa là trung tâm, là điểm chính. Sống nhỏ bé, vả cả sống với những bất toàn của mình trước nhan Thiên Chúa Tình Yêu, là điều tốt đẹp biết là chừng nào, bởi vì như thế chúng ta làm sáng tỏ rõ ràng hơn nữa tình thương nhân từ của Thiên Chúa Cha. Lúc đó, trước Tình Yêu vô cùng của Thiên Chúa Cha, thì mọi dịp, mọi hoàn cảnh, dù là tiêu cực, đều là điều tốt để giúp ta lớn lên; mọi thử thách, mọi điều nghịch ý, sẽ trở thành tích cực và hữu ích để giúp ta LỚN LÊN TRONG TÌNH YÊU.

Lạy Chúa, Chúa đã đi qua con đường thập giá để cứu rỗi chúng con. Theo gương và nhờ lời cầu khẩn của thánh nữ Têrêsa, xin Chúa ban ơn giúp con biết sống mọi giây phút như hạt giống phải chết đi để trổ sinh hoa trái. Xin cho con được trưởng thành trong Tình Yêu, nhờ qua Thập Giá Chúa. Amen.

     
     

Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

       

  Mục Lục:  
 
(1) Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Tiến Sĩ Hội Thánh. Click here
 
  (2) Thân Phụ và Thân Mẫu Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng. Click here  
  (3) Thánh Nữ Têrêsa Quan Thầy các xứ Truyền Giáo. Click here  
  (4) Thánh Lễ phong tước hiệu Tiến Sĩ cho Thánh Têrêsa. Click here  
  (5) Bài Giảng Lễ phong tước Tiến Sĩ cho Thánh Nữ Têrêsa. Click here  
 

(6) Con đường trưởng thành của Thánh Têrêsa. Click here

 
     

Top

Back To Main Page

Copyright 2005 - all right reserved - Ngàn Thông Choir